<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<article article-type="research-article" dtd-version="1.3" xmlns:xlink="http://www.w3.org/1999/xlink">
	<front>
		<journal-meta>
			<journal-title-group>
				<journal-title>Tạp chí Khoa học và Công nghệ</journal-title>
				<abbrev-journal-title>Khoa học &amp; Công nghệ</abbrev-journal-title>
			</journal-title-group>
			<issn pub-type="ppub">2615-9015</issn>
			<issn pub-type="epub">2615-9015</issn>
			<publisher><publisher-name>Trường Đại học Nguyễn Tất Thành</publisher-name></publisher>
		</journal-meta>
		<article-meta>
			<article-id pub-id-type="publisher-id">c1515305-8afc-8126-8638-01a0fa208ffb</article-id>
			<article-id pub-id-type="doi">10.55401/7gs1hx97</article-id>
			<title-group><article-title>Cơ chế trung gian của khả năng phát hiện kênh trong tiếp cận thông tin báo chí địa phương tại Đồng Nai</article-title></title-group>
			<contrib-group>
				<contrib contrib-type="author"><string-name>Trần Thị Ngân Triều</string-name></contrib>
			</contrib-group>
			<pub-date pub-type="epub"><day>27</day><month>8</month><year>2026</year></pub-date>
			<volume>9</volume>
			<issue>8</issue>
			<fpage>34</fpage>
			<lpage>42</lpage>
			<self-uri content-type="html" xlink:href="https://jst.ntt.edu.vn/articles/c1515305-8afc-8126-8638-01a0fa208ffb" />
			<self-uri content-type="pdf" xlink:href="https://uploadservice.ntt.edu.vn/dbOBrwZN1R_1/file/article_1066_261002-PnKrwdLcpV-D.pdf" />
			<abstract><p>Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế tiếp cận thông tin báo chí địa phương của công chúng thành phố Đồng Nai trong bối cảnh chuyển đổi số báo chí và sáp nhập hành chính. Bằng phương pháp kết hợp khảo sát định lượng (n = 403) với phỏng vấn sâu (24 trường hợp), nghiên cứu kiểm định mô hình phương trình cấu trúc cho thấy khả năng phát hiện kênh báo chí đóng vai trò biến trung gian quyết định trong chuỗi tác động từ điều kiện tiếp cận đến tần suất tiếp cận (R² = 0,743; β = 0,814, p &lt; 0,001). Kết quả phân tích cho thấy, mạng xã hội là kênh phát hiện chính (35,8 %) nhưng niềm tin vào báo chí chính thống vẫn cao hơn trải nghiệm người dùng (M = 3,91 so với M = 3,84), tạo ra nghịch lý cần chiến lược chuyển hóa có chủ đích. Bất bình đẳng tiếp cận mang tính xã hội nhiều hơn không gian địa lý, trong đó học vấn là yếu tố phân hóa mạnh nhất. Nghiên cứu đề xuất khung phân tích ba lớp và hệ thống chỉ số đo lường tiếp cận có thể áp dụng cho các nghiên cứu về báo chí địa phương tại Việt Nam.</p></abstract>
			<kwd-group><kwd>Báo chí địa phương</kwd><kwd>tiếp cận thông tin</kwd><kwd>khả năng phát hiện kênh</kwd><kwd>biến trung gian</kwd><kwd>Đồng Nai</kwd></kwd-group>
		</article-meta>
	</front>
</article>