Chính sách của tạp chí
- Đối với tác giả
- Phản biện
- Biên tập – Xét duyệt – Xuất bản
- Công khai và bảo mật thông tin
- Trùng lặp
- Đạo đức nghiên cứu
- Xung đột lợi ích
- Khiếu nại và kháng cáo
- Đặt hàng bài viết
- Rút nộp bản thảo, thu hồi bài báo
- Tài chính
- Lưu trữ
- Truy cập tự do
- Thảo luận sau xuất bản
- Bản quyền
Đối với tác giả
1. Tác giả bài báo gửi đăng chịu trách nhiệm về độ tin cậy đối với kết quả nghiên cứu do mình tham gia thực hiện và chịu trách nhiệm tuân thủ mọi quy định liên quan đến xuất bản bài báo khoa học theo Luật xuất bản, Luật báo chí, Luật Khoa học và Công nghệ và Luật sở hữu trí tuệ hiện hành.
2. Tác giả bài báo gửi đăng phải công khai các xung đột lợi ích rõ ràng và tiềm ẩn của bài báo (nếu có).
3. Tác giả gửi bài có nghĩa vụ thực hiện đúng các quy định về thể lệ đăng bài của tạp chí; chỉnh sửa và hoàn chỉnh bài viết theo yêu cầu của phản biện và Ban biên tập.
4. Thứ tự tên của các tác giả trong bài báo được sắp xếp thể hiện tương xứng với đóng góp của tác giả cho bài báo hoặc vai trò trong nhóm tác giả: Tác giả xếp đầu danh sách có đóng góp nhiều nhất, vị trí tiếp theo là tác giả có đóng góp nhiều thứ hai, thứ ba, v.v., tác giả xếp cuối thường là người có vai trò lãnh đạo nghiên cứu của nhóm tác giả. Trên cơ sở đạt được sự đồng thuận của nhóm tác giả, tác giả gửi bài chịu trách nhiệm về việc sắp xếp thứ tự các tác giả của bài viết và tên của các đồng tác giả. Sau khi bài viết bước vào giai đoạn biên tập, bất kỳ sự bổ sung, xóa bỏ hoặc sắp xếp lại tên tác giả trong danh sách tác giả đều không được chấp nhận (trừ trường hợp có lý do chính đáng và đã kiến nghị đến tòa soạn bằng văn bản); tác giả gửi bài là người chịu trách nhiệm chính trong quá trình trao đổi với tòa soạn.
5. Tác giả không được phép gửi bản thảo đến tạp chí khác trong khi chưa có quyết định xét duyệt cuối cùng của Ban biên tập và phải chịu trách nhiệm về việc đăng bài báo trùng lặp với tạp chí khác; không được cung cấp thông tin liên quan đến mình trong bài viết; không được tiếp xúc với phản biện trong quá trình xét duyệt bài báo.
6. Quyền tác giả bài báo được xuất bản bởi Tạp chí được áp dụng theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2022, Luật bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ 2022. Tác giả có quyền nhân thân và quyền tài sản của bản thảo gửi cho Tạp chí. Cụ thể như sau:
a) Quyền nhân thân: Tác giả có quyền đặt tên hoặc cho phép Tạp chí đặt tên cho bài báo nhằm nâng cao chất lượng bài báo, theo đúng thể lệ của Tạp chí; tự công bố hoặc cho phép Tạp chí công bố bài báo của mình; Bảo vệ sự toàn vẹn của bản thảo, không cho người khác xuyên tạc, sửa đổi, cắt xén bản thảo gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả; cho phép phản biện, biên tập của Tạp chí đề xuất tác giả sửa đổi, điều chỉnh bổ sung nhằm nâng cao chất lượng bản thảo và theo đúng thể lệ của Tạp chí.
b) Quyền tài sản: Tác giả quyền tài sản và quyền sở hữu tài sản đối với bản thảo ban đầu nộp cho Tạp chí; tác giả có quyền nộp bản thảo dựa trên bài báo của chính tác giả đã công bố nhưng khác tiêu đề, mục tiêu, kết quả nghiên cứu và không tương đồng quá 30%; có quyền gửi bản thảo đến Tạp chí khác nếu Tạp chí từ chối nhận hoặc từ chối xuất bản.
7. Tác giả bài báo được đăng bài trên tạp chí là viên chức của Trường Đại học Nguyễn Tất Thành được tính giờ chuẩn, giờ nghiên cứu khoa học theo quy định của Nhà trường.
8. Tác giả bài báo được Hội đồng Giáo sư Nhà nước tính điểm công trình nghiên cứu khoa học khi xét công nhận đạt chuẩn chức danh Giáo sư và Phó Giáo sư (áp dụng cho ngành được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận tính điểm).
9. Tạp chí khuyến khích sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như một công cụ hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu. AI có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích dữ liệu lớn, tìm kiếm thông tin, và thậm chí là trong việc phát triển mô hình dự đoán của công trình nghiên cứu.
10. Tác giả sử dụng AI cần tuân theo các nguyên tắc để đảm bảo tính minh bạch trong việc sử dụng AI, cung cấp thông tin chi tiết về công nghệ AI đã được sử dụng, lý do sử dụng nó, và cách tác giả đánh giá kết quả AI, nhằm giúp xây dựng cơ sở tin cậy cho nghiên cứu và ứng dụng AI.
11. Để đảm bảo sự minh bạch trong việc báo cáo về sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), trong phần "Lời cảm ơn" của bản thảo, tác giả cần thêm thông tin về việc sử dụng AI thông qua văn bản rõ ràng, bao gồm loại công nghệ AI được sử dụng, lý do sử dụng công nghệ AI, vai trò của công nghệ AI trong nghiên cứu. Nếu AI được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, tác giả nên đưa ra mô tả chi tiết trong phần "Phương pháp". Biên tập viên có thể yêu cầu thêm thông tin hoặc điều chỉnh nội dung để đảm bảo tính minh bạch và chuẩn bị cho việc xuất bản.
Phản biện
1. Người phản biện phải là các nhà khoa học có học vị Tiến sĩ trở lên, có uy tín và liêm chính khoa học, có nhiều công trình khoa học đã được công bố trong nước và quốc tế; có cùng chuyên môn hoặc gần chuyên môn với lĩnh vực và đối tượng nghiên cứu của bài báo được mời tham gia phản biện; có khả năng đánh giá chất lượng công trình nghiên cứu; người phản biện không có tồn tại sự cạnh tranh về lợi ích hoặc không có mối quan hệ tài chính/phi tài chính quá gần với tác giả/ đề tài nghiên cứu.
2. Người phản biện có nhiệm vụ đánh giá nội dung khoa học của bài viết một cách khách quan, trung thực, tôn trọng tự do học thuật; đưa ra nhận xét phản biện mang tính xây dựng, tích cực, văn minh dựa theo Mẫu phiếu phản biện được cung cấp bởi Tòa soạn. Người phản biện có trách nhiệm:
a) Đánh giá toàn bộ bài báo trên tất cả các khía cạnh khoa học và liêm chính học thuật được quy định bởi tạp chí;
b) Không chỉnh sửa nội dung bản thảo, nhưng đưa ra nhận xét và đề xuất cải tiến chất lượng bài báo;
c Duy trì tính ẩn danh và bí mật trong quá trình đánh giá bài báo; không được liên hệ với tác giả bài báo khi đang trong quá trình bình duyệt;
d) Tuân thủ thời gian trả kết quả phản biện theo cam kết khi nhận lời phản biện, hoặc theo quy định của tạp chí (tối đa 20 ngày đối với vòng một và 07 ngày đối với vòng hai).
3. Tạp chí có thể yêu cầu chuyên gia phản biện hỗ trợ cung cấp thêm các ý kiến, trao đổi khác về bản thảo để hoàn thiện quá trình phản biện.
4. Phản biện chấp nhận kết quả kiến nghị của biên tập viên và kết quả duyệt đăng của Tổng biên tập có thể không giống với kết quả phản biện.
5. Nhận xét của người phản biện đánh giá các nội dung chính sau: Tiêu đề; Tóm tắt, từ khóa; Giới thiệu; Lý do nghiên cứu; Cơ sở lý thuyết; Phương pháp nghiên cứu và cơ sở dữ liệu; Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn của bản thảo; Hình thức trình bày và lỗi chính tả/ngữ pháp; Danh mục tài liệu tham khảo.
6. Đánh giá xếp hạng bản thảo theo ý kiến cá nhân của chuyên gia phản biện (gồm 7 mức): A- Xuất sắc (Excellence); B- Rất tốt (Very good); C- Tốt (Good); D- Chấp nhận (Acceptable); E- Dưới trung bình (Below average); F- Tệ (Poor).
7. Đề xuất của người phản biện: Sau khi đánh giá bản thảo, người phản biện lựa chọn một trong các đề xuất sau để giúp Tạp chí đưa ra quyết định đối với bản thảo:
- Chấp nhận bản thảo mà không cần chỉnh sửa;
- Chỉnh sửa và nộp lại Tòa soạn (chỉnh sửa nhỏ kèm theo bản giải trình và không cần nộp lại để phản biện);
- Chỉnh sửa và nộp lại để phản biện (Các điểm cần sửa ảnh hưởng lớn đến nội dung của bài báo nên bản thảo sau khi sửa cần phải được gửi lại cho người phản biện để đánh giá lại kèm theo bản giải trình);
- Từ chối bản thảo (Cần giải thích rõ lý do trong báo cáo).
8. Các đánh giá và đề xuất của người phản biện cần tương thích với nhau:
- Mức đánh giá từ A-D: chấp nhận đăng (có hoặc không cần chỉnh s
ửa, hoặc chỉnh sửa và nộp lại để phản biện lần hai);
- Mức đánh giá E-F: Từ chối đăng.
9. Quyết định cuối cùng: Biên tập viên sẽ cân nhắc các khuyến nghị của các phản biện để đưa ra các yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung, trao đổi với tác giả nếu cần thiết.
10. Người phản biện được nhận thù lao phản biện theo quy định hiện hành của Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.
Biên tập – Xét duyệt – Xuất bản
1. Sau khi có kết quả phản biện, Biên tập viên đưa ra các quyết định (có thể trao đổi lại với các phản biện) về chấp nhận hoặc từ chối bản thảo, hoặc các nội dung chỉnh sửa nộp lại, phản biện vòng hai. Thời gian đưa ra quyết định là 03 ngày kể từ khi có kết quả phản biện.
2. Biên tập viên tiến hành kiểm tra tính tương đồng (đạo văn) của bản thảo, đưa ra kết luận về bài báo trên cơ sở kết quả tính tương đồng và thông báo kết quả đến tác giả; hoặc đề nghị tác giả rà soát, chỉnh sửa để bảo đảm phù hợp tiêu chuẩn của tính tương đồng.
3. Biên tập viên hỗ trợ rà soát, biên tập lại bản thảo trước khi duyệt đăng và xuất bản theo đúng thể lệ của bài báo khoa học hoàn chỉnh được quy định bởi Tạp chí. Tác giả phải hợp tác với Biên tập viên để chỉnh sửa theo các yêu cầu của Biên tập viên, bảo đảm rằng các bản thảo đủ các điều kiện để duyệt đăng. Ngày nộp lại là ngày mà tác giả hoàn thành việc chỉnh sửa theo yêu cầu của Biên tập viên và nộp lại toà soạn (thời gian chỉnh sửa là 10 ngày kể từ khi nhận được các nội dung chỉnh sửa từ Biên tập viên).
4. Tác giả phải chỉnh sửa theo các yêu cầu của phản biện cũng như của biên tập viên. Ngày nộp lại là ngày mà tác giả hoàn thành việc chỉnh sửa theo yêu cầu của biên tập viên và nộp lại toà soạn (thời gian chỉnh sửa là 10 ngày kể từ khi nhận được các nội dung chỉnh sửa từ Biên tập viên).
5. Biên tập viên gửi bản thảo cuối cùng để tác giả xác nhận về nội dung lẫn hình thức của bản thảo trước khi xuất bản. Tất cả các bước trong quá trình biên tập và rà soát bản thảo đều được thực hiện trên hệ thống trực tuyến của Tạp chí. Tác giả liên hệ thay mặt cho tất cả các đồng tác giả chịu trách nhiệm về tính chính xác của tất cả nội dung và hình thức của bản thảo cũng như thông tin của tất cả các đồng tác giả.
6. Khi bản thảo đã kết thúc quá trình biên tập và có sự xác nhận (xem lại) của tác giả về bản thảo, bản thảo sẽ được chuyển sang quá trình xét duyệt để xuất bản. Trong giai đoạn này, tác giả sẽ không còn quyền rút hoặc thay đổi bản thảo.
7. Kết quả duyệt đăng và xuất bản sẽ được thông báo đến tác giả bản thảo bằng email. Số thứ tự của bản thảo cũng số báo mà bản thảo được sắp xếp đăng là do Tòa soạn quyết định (Thời gian và số báo dự kiến có thể thay đổi).
8. Thời gian xét duyệt bản thảo là 10 ngày (kể từ hoàn tất bản thảo cuối cùng).
9. Bài báo sẽ được xuất bản điện tử sau khi được duyệt đăng và duyệt xuất bản. Tác giả liên hệ sẽ được thông báo về số báo dự kiến của bài báo bằng email. Bài báo được xuất bản bản in hoặc bản điện tử, hoặc cả hai trên website Tạp chí. Thời điểm xuất hiện hai phiên bản này có thể không cùng lúc với nhau. Quyền quyết định hình thức xuất bản thuộc về Tạp chí.
Công khai và bảo mật thông tin
1. Tạp chí có trách nhiệm công khai bằng văn bản các chính sách của tạp chí, nhân sự tòa soạn, danh sách Ban biên tập, mục tiêu và phạm vi đăng tài của tạp chí, các hướng dẫn chi tiết dành cho tác giả, người phản biện và các mẫu phiếu đánh giá, mẫu quy định về trích dẫn, cấu trúc và thể thức bài báo. Những nội dung công khai trên website của tạp chí được xem là công khai bằng văn bản và Tổng biên tập chịu trách nhiệm phê duyệt trước khi đăng tải.
2. Tạp chí thực hiện chính sách phản biện kín hai chiều, trong đó tác giả và người phản biện sẽ được ẩn danh; mọi thông tin trao đổi sẽ phải thông qua tòa soạn. Tạp chí thực hiện quy trình phản biện mới hoặc sẽ từ chối đăng bài nếu tác giả hoặc người phản biện vô tình hoặc cố ý tiết lộ danh tính cho bên còn lại.
3. Tạp chí có trách nghiệm giữ kín tên tác giả, người phản biện và các thông tin về cá nhân, tổ chức của tác giả, người phản biện và sẽ không tiết lộ vì bất cứ mục đích thương mại nào, ngoại trừ được yêu cầu tiết lộ bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về pháp luật.
4. Tạp chí có quyền liên hệ với các nhà tài trợ, cơ quan quản lý hoặc các tổ chức của tác giả trong các trường hợp nghi ngờ nghiên cứu của tác giả có liên quan đến đối tượng chưa được cấp giấy phép hoặc tiết lộ các tài liệu mật đe dọa đến an ninh, hoặc chứa đựng những thông tin trái với pháp luật hiện hành.
5. Tạp chí có thể gửi các email không thường xuyên đến tác giả, người phản biện, cộng tác viên và bạn đọc của tạp chí với mục đích thu hút bài báo như: thông báo các tin tức mới, mời gửi bài, mời phản biện, mời cộng tác,… Bất kỳ ai muốn ngừng nhận những email như vậy đều có thể yêu cầu để được xoá khỏi danh sách.
6. Các tác giả cần đảm bảo sự bảo mật trên tất cả các tài liệu, các nội dung phản biện, biên tập do Toà soạn chuyển cho tác giả.
7. Người phản biện có trách nhiệm bảo đảm tính bảo mật cho tất cả các tài liệu trong quá trình phản biện. Người phản biện không được chia sẻ các đánh giá hoặc thông tin về bản thảo với bất kỳ ai hoặc liên hệ trực tiếp với tác giả mà không có được sự đồng ý của Tổng biên tập. Các người phản biện không được sử dụng thông tin bản thảo cho mục đích cá nhân.
Trùng lặp
Bản thảo bài báo được kiểm tra đạo văn bằng phương pháp thủ công hoặc bằng phần mềm Turnitin để phát hiện trùng lặp. Trong trường hợp phát hiện đạo văn, tạp chí có quyền yêu cầu tác giả giải trình, chỉnh sửa hoặc ngay lập tức từ chối đăng bài. Các hành vi sau đây được tạp chí xem là các hành vi đạo văn:
a) Đưa vào bài báo của tác giả các đoạn văn, số liệu, hình ảnh hoặc các thông tin khác từ các công trình nghiên cứu hoặc bài báo đã xuất bản của người khác mà không trích dẫn nguồn gốc của công trình, bài báo đó;
b) Cung cấp một cách mơ hồ, không rõ ràng hoặc không chính xác về nguồn thông tin được sử dụng lại trong bài báo hoặc không đúng tác giả của nguồn thông tin đó;
c) Có trích dẫn đúng nguồn thông tin nhưng không tuân thủ đúng theo quy định trích dẫn của tạp chí;
d) Dịch một phần hoặc dịch toàn bộ một văn bản từ tiếng Việt sang tiếng Anh hoặc từ ngôn ngữ khác sang tiếng Việt để tạo thành trên 20% hàm lượng bài báo của tác giả mà không trích dẫn văn bản gốc;
e) Trích dẫn đúng quy cách nội dung bài viết của tác giả khác để hình thành nên bài báo của mình nhưng có hàm lượng trích dẫn chiếm từ 25% nội dung của bài báo trở lên, ngoại trừ việc trích dẫn đảm bảo tính nguyên vẹn của công trình gốc và việc trích dẫn chỉ có tác dụng làm rõ cho luận điểm mà tác giả đang cố gắng thuyết phục để dẫn tới kết luận riêng của mình;
f) Sử dụng trên 30% hàm lượng của chính công trình đã công bố trước đây của tác giả và trình bày như một bài bảo mới;
g) Sao chép toàn bộ công trình, bài báo của người khác để tạo thành bài báo của mình;
h) Trình bày lại ý tưởng của người khác dưới cách hành văn cá nhân;
i) Các hành vi khác trái với pháp luận hiện hành về bản quyền, sở hữu trí tuệ;
k) Chép nguyên văn một đoạn văn chứa từ 20 từ trở lên, hoặc có mức độ trùng lắp từ 25% trở lên và mỗi nguồn vượt quá 2%, hoặc chỉ thay đổi tên đề tài, số liệu mà giữ nguyên nội dung được coi là vi phạm.
Đạo đức nghiên cứu
1. Mọi cá nhân tiến hành nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu của mình trên tạp chí được yêu cầu tuân thủ các nguyên tắc tự do học thuật, theo đuổi và trình bày kết quả nghiên cứu khoa học đảm bảo tính toàn vẹn của tri thức; không sợ bị đe dọa, đàn áp hoặc kiểm duyệt bởi tổ chức hoặc cá nhân có quyền lực vì lợi ích riêng mà che giấu những phát hiện và phát minh khoa học. Tạp chí xem các hành vi sau đây là vi phạm về đạo đức trong nghiên cứu:
a) Hành vi bịa đặt: tác giả và nhóm tác giả không thực sự thực hiện nghiên cứu, nhưng đã giả mạo dữ liệu hoặc kết quả thể hiện trong bài báo;
b) Hành vi làm sai lệch dữ liệu: tác giả và nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu, thử nghiệm, nhưng đã thao túng, thay đổi hoặc bỏ sót dữ liệu hoặc kết quả từ kết quả nghiên cứu, thử nghiệm ban đầu;
c) Hành vi đạo văn: là việc sử dụng có hoặc không có chủ ý của tác giả các sản phẩm học thuật về các câu văn, đoạn văn, bài báo, số liệu, hình ảnh, thông tin và ý tưởng của người khác vào các sản phẩm của mình mà không có những chỉ dẫn/thừa nhận từ tác giả của những nội dung đã sử dụng. Các hành vi được Tạp chí xem là các hành vi đạo văn đã được nêu ở Điều 11;
d) Những nghiên cứu khoa học gây nên tổn thương không thể khắc phục cho con người, động vật sống và môi trường;
e) Đối xử không công bằng với các thành viên nghiên cứu; có hành vi phân biệt chủng tộc, dân tộc, tôn giáo, giới tính, khuynh hướng tình dục, hoặc kỳ thị với người, nhóm người dễ bị tổn thương;
f) Có nội dung làm suy yếu - hoặc có thể được coi là phá hoại một cách hợp lý - quyền và phẩm giá của một cá nhân hoặc nhóm người mà vai trò của họ được hình thành trên cơ sở xã hội hoặc có liên quan đến xã hội;
g) Nêu đích danh và dựa vào nội dung bài báo các hình ảnh, thông tin liên quan đến cá nhân mà không được sự cho phép của họ;
h) Nội dung nghiên cứu sử dụng giao tử người, tế bào gốc, phôi người và các vật liệu liên quan, nội tạng hoặc các cơ quan trên cơ thể người mà không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.
2. Đối với các công trình nghiên cứu liên quan tới hóa chất, quy trình, thiết bị nguy hại, tác giả cần tuyên bố rõ ràng trong bài viết về việc tuân thủ đúng các thủ tục của pháp luật Việt Nam, các hướng dẫn của các tổ chức quốc tế có liên quan.
3. Đối tượng nghiên cứu là động vật hoặc con người, nghiên cứu liên quan đến người tham gia nghiên cứu phải được thực hiện theo Tuyên bố của Helsinki.
4. Tác giả có trách nhiệm quản lý các yếu tố về đạo đức nghiên cứu. Tạp chí có quyền yêu cầu tác giả công khai và cung cấp những tài liệu, minh chứng khi cần thiết. Khi không đủ minh chứng, tạp chí có quyền đưa ra từ chối đăng bài.
Xung đột lợi ích
1. Tạp chí có trách nhiệm quản lý các xung đột lợi ích tiềm ẩn của các thành viên thuộc toà soạn, thành viên Ban biên tập, tác giả, người phản biện và các cá nhân liên quan. Tạp chí yêu cầu các cá nhân tuyên bố xung đột lợi ích rõ ràng và tiềm ẩn và chịu trách nhiệm với tuyên bố của mình.
2. Tạp chí xem xung đột lợi ích tiềm ẩn là tất cả các yếu tố có thể gây trở ngại hoặc can thiệp vào vào việc trình bày đầy đủ và khách quan kết quả nghiên cứu hoặc có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả nghiên cứu trong bài báo sau khi xuất bản. Tạp chí xem các loại xung đột lợi ích tiềm ẩn liên quan đến các ủy viên Ban biên tập, tác giả, người phản biện bao gồm:
a) Đối với thành viên Ban biên tập: Những lợi ích tài chính và phi tài chính mà thành viên đó được hưởng, bao gồm chuyên môn, vị trí công tác, chức vụ, các tổ chức mà cá nhân có liên kết, trả tiền. Những thông tin này được tạp chí thu thập và quản lý thường xuyên, hàng năm hoặc khi bổ nhiệm, tái bổ nghiệm, hoặc khi được giao nhiệm vụ;
b) Đối với tác giả: Tác giả có nghĩa vụ tiết lộ bất kỳ lợi ích cá nhân hoặc mối quan hệ nào có khả năng bị ảnh hưởng khi xuất bản bản thảo đã nộp (nếu có). Các nguồn tài trợ phải được ghi nhận trong bản thảo. Tất cả các tác giả phải báo cáo bất kỳ lợi ích tài chính nào trong các tổ chức doanh nghiệp hoặc thương mại liên quan đến mình. Thay mặt cho tất cả các tác giả, tác giả liên hệ có trách nhiệm thông báo cho tạp chí về xung đột lợi ích tiềm ẩn tại thời điểm gửi bản thảo. Những xung đột như vậy sẽ được tuyên bố trong bài báo khi xuất bản. Tác giả cũng phải gửi bản đính chính nếu xung đột lợi ích tiềm ẩn trở thành xung đột lợi ích rõ ràng sau khi bài báo đã được xuất bản. Khi đó, tùy thuộc vào mức độ xung đột lợi ích mà tạp chí sẽ ra quyết định thu hồi hoặc không thu hồi bài báo, và công bố có xung đột lợi ích của bài bảo đó trên website của tạp chí;
c) Đối với người phản biện: Người phản biện ngoài nhiệm vụ được quy định tại Khoản 2 Điều 8 Quy định này còn có nhiệm vụ đánh giá bất kỳ xung đột lợi ích nào do tác giả công khai cũng như khai bảo bất kỳ tình huống nào có thể dẫn tới thiên vị hoặc được cho là thiên vị về đánh giá của họ cho bản thảo được đề xuất phân biện, bao gồm: danh tính của mình hoặc của tác giả bị tiết lộ cho bên còn lại, mối quan hệ cá nhân với người mời phản biện, phát hiện có nghiên cứu cạnh tranh đồng thời về cùng một chủ đề trong bài bảo, hoặc có các mối quan hệ chuyên môn hoặc tài chính với một tổ chức có lợi ích sau khi bài bảo được xuất bản. Trong những trường hợp có xung đột lợi ích tiềm ẩn hoặc rõ ràng, việc sử dụng kết quả đánh giá hay không là tùy theo quyết định của Tổng biên tập.
3. Tạp chí tuân thủ nghiêm ngặt chính sách độc lập trong quá trình sơ duyệt, phản biện, biên tập và xuất bản; không bị chi phối bởi bất kỳ thỏa thuận nào với bên thứ ba hoặc nhà tài trợ, đối tác của tạp chí.
Khiếu nại và kháng cáo
1. Tạp chí tiếp nhận các khiếu nại từ cá nhân, tập thể, cơ quan, tổ chức (người khiếu nại) yêu cầu Tạp chí xem xét lại các quyết định liên quan đến việc thực hiện các quy định và chính sách mà Tạp chí đã công bố. Các hình thức khiếu nại bao gồm:
a) Khiếu nại về quyền tác giả;
b) Khiếu nại về đạo văn;
c) Xuất bản nhiều lần, trùng lắp, đăng đồng thời;
d) Kết quả nghiên cứu bị làm sai lệch;
e) Cáo buộc về lỗi nghiên cứu hoặc gian lận trong nghiên cứu;
f) Nghiên cứu vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức;
g) Xung đột lợi ích không được tiết lộ;
h) Xung đột lợi ích từ phía phản biện.
2. Khiếu nại sẽ được xử lý bởi biên tập viên đã xử lý bài báo đó. Quy trình xử lý khiếu nại như sau:
Bước 1: Người khiếu nại sẽ gửi thư khiếu nại đến email của Tạp chí (tapchikhcn@ntt.edu.vn). Thư khiếu nại cần nêu rõ các nội dung sau: Vấn đề cần khiếu nại; Các minh chứng liên quan đến nội dung khiếu nại.
Bước 2: Thư khiếu nại sẽ được Tạp chí xác nhận qua email trong vòng 3 ngày làm việc.
Bước 3: Tạp chí thực hiện xác minh và xử lý vấn đề khiếu nại với các bên liên quan theo quy định về xử lý khiếu nại của Tạp chí. Thời gian xử lý từ 30 đến 90 ngày, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể.
Bước 4: Kết quả xử lý khiếu nại sẽ được thông báo đến người khiếu nại thông qua email hoặc trên website của Tạp chí.
3. Khiếu nại sẽ không được xem xét nếu chúng có chứa những lời chỉ trích cá nhân, ngôn ngữ không phù hợp, xúc phạm, hoặc khi người khiếu nại xác định vấn đề không rõ ràng và dễ gây nhầm lẫn.
4. Tạp chí tiếp nhận các kháng cáo của cá nhân, tập thể, cơ quan, tổ chức (người kháng cáo) không đồng ý với quyết định của Tạp chí liên quan đến kết quả xử lý khiếu nại. Quy trình xử lý kháng cáo như sau:
Bước 1: Người kháng cáo sẽ gửi thư kháng cáo đến email của Tạp chí (tapchikhcn@ntt.edu.vn). Thư kháng cáo cần nêu rõ các nội dung sau: Nội dung kháng cáo; Các minh chứng liên quan đến nội dung kháng cáo.
Bước 2: Thư kháng cáo sẽ được Tạp chí xác nhận qua email trong vòng 3 ngày làm việc.
Bước 3: Tạp chí thực hiện xác minh và xử lý vấn đề kháng cáo với các bên liên quan. Thời gian xử lý từ 30 đến 90 ngày, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể.
Bước 4: Kết quả xử lý kháng cáo sẽ được thông báo đến người kháng cáo thông qua email hoặc trên website của Tạp chí.
5. Các thông tin liên quan đến quá trình khiếu nại và kháng cáo được Tạp chí bảo mật hoàn toàn.
Đặt hàng bài viết
Nhằm đáp ứng một số những yêu cầu nghiên cứu của cộng đồng khoa học, Tạp chí sẽ đặt hàng các tác giả thực hiện các bài viết theo yêu cầu của Tạp chí trong việc cung cấp những thông tin mới nhất và chất lượng nhất thuộc lĩnh vực nghiên cứu Kĩ thuật - Công nghệ, Khoa học Sức khỏe, Khoa học Xã hội và Nhân văn, Kinh tế - Quản trị. Dưới đây là một số quy định về bài viết đặt hàng mà Tạp chí đang áp dụng:
a) Đảm bảo tính độc quyền và dành riêng cho Tạp chí: Các bài báo đặt hàng là công trình chưa từng được công bố hoặc gửi đồng thời cho tạp chí khác; đồng thời là sản phẩm của các đề tài do Nhà trường đặt hàng. Các bài báo đặt hàng phải đảm bảo hoàn thành trong khoảng thời gian mà Tạp chí yêu cầu. Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà Tạp chí sẽ có các chính sách nhuận bút dành riêng cho tác giả thực hiện các bài báo đặt hàng này.
b) Thể lệ: Bài viết đặt hàng cần tuân thủ những nguyên tắc về thể lệ bài viết đã nêu trong hướng dẫn dành cho tác giả, đặc biệt là về độ dài bài báo, định dạng, cấu trúc.
c) Tham khảo và trích dẫn: tác giả trích dẫn các nguồn tham khảo một cách chính xác và theo quy tắc trích dẫn quốc tế APA. Cần tuân thủ quy định về định dạng và phong cách trích dẫn mà Tạp chí yêu cầu trong hướng dẫn dành cho tác giả.
d) Ngôn ngữ: Tùy thuộc vào từng chuyên trang, các bài viết đặt hàng có thể yêu cầu viết bằng ngôn ngữ cụ thể là tiếng Anh hoặc tiếng Việt.
e) Tính mới, đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của các bài viết đặt hàng cần mang lại sự đóng góp mới và đáng kể cho lĩnh vực nghiên cứu đang được khám phá, cũng như mang lại giá trị thực tiễn, tức là ứng dụng và tác động trực tiếp vào cuộc sống hàng ngày, công nghiệp hoặc xã hội.
Rút nộp bản thảo, thu hồi bài báo
1. Tác giả được quyền rút lại bản thảo bài báo đã nộp hoặc điều chỉnh, bổ sung nội dung, hoặc điều chỉnh thông tin bài báo trong vòng 01 tuần sau khi Toà soạn nhận được bản thảo lần đầu tiên tác giả gửi đến cho tạp chí.
2. Tác giả được quyền rút lại bản thảo bài báo đã nộp nếu như bản thảo chưa được tạp chí xử lý sau 6 tháng kể từ ngày tác giả lần đầu tiên gửi đến cho tạp chí.
3. Sau thời gian rút nộp cho phép, việc yêu cầu rút nộp sẽ không được chấp nhận trừ khi tác giả gửi yêu cầu bằng văn bản nêu rõ lý do rút nộp hợp lý. Trong trường hợp Tạp chí chấp nhận cho rút nộp, Tác giả sẽ phải trả khoản phí nộp phạt cho việc rút nộp, mức nộp phạt được công khai trên website của Tạp chí.
Lưu ý: Nếu Tác giả không đồng ý với hình phạt, Tác giả sẽ bị đưa vào danh sách đen của Tạp chí và tất cả những bài báo đã xuất bản trước đây Tác giả đó cũng sẽ bị xóa khỏi hệ thống trực tuyến của Tạp chí.
4. Các bài báo vi phạm nghiêm trọng các chính sách của Tạp chí về trùng lặp, hoặc về đạo đức nghiên cứu, hoặc có xung đột lợi ích rõ ràng sẽ bị thu hồi và thông báo công khai trên website của Tạp chí.
5. Thông tin về bản thảo rút nộp được sẽ bị xóa vĩnh viễn khỏi hệ thống trực tuyến của Tạp chí; thông tin về bài báo bị thu hồi và Tác giả của bài báo bị thu hồi sẽ được Tạp chí lưu trữ ít nhất 05 năm và danh sách các tác giả của bài báo bị thu hồi sẽ bị đưa vào danh sách đen của Tạp chí.
Tài chính
1. Tất cả các tác giả đều có quyền đăng ký theo dõi và gửi bản thảo bài báo nghiên cứu của mình về Tạp chí mà không phải trả bất kỳ khoản phí nào; mọi quyết định xuất bản bài báo đều dựa trên giá trị về mặt khoa học và thực tiễn của bài báo; mọi quyết định này đều tuân thủ theo hướng dẫn của Ủy ban Đạo đức (COPE).
3. Không cần có sự cho phép đặc biệt hay trả bất kỳ khoản phí nào để sử dụng lại một phần bài báo hoặc tất cả nội dung bài báo do Tạp chí xuất bản, bao gồm cả hình ảnh, bảng biểu, dữ liệu,… với điều kiện phải trích dẫn nguồn rõ ràng.
4. Phản biện và biên tập bài viết được hưởng thù lao theo Quy chế tài chính của Nhà trường.
Lưu trữ
1. Tạp chí lưu trữ các bài báo đã được chấp nhận và đã xuất bản thông qua chính sách truy cập mở trước và sau khi xuất bản.
2. Tạp chí lưu trữ toàn bộ những bản thảo gửi đến và các bài báo được xuất bản của các chuyên trang thông qua hai hệ thống lưu trữ:
a) Hệ thống lưu trữ nội bộ của Tạp chí: Tạp chí sử dụng Hệ thống lưu trữ nội bộ nhằm đáp ứng yêu cầu lưu trữ an toàn và vĩnh viễn tất cả các xuất bản phẩm được xuất bản bởi Tạp chí. Toàn văn các bài báo được xuất bản trên Tạp chí được lưu giữ an toàn và vĩnh viễn. Ba phiên bản của bài báo được Tạp chí tiến hành lưu trữ bao gồm:
- Bản gốc: Phiên bản được gửi bởi tác giả hoặc nhóm tác giả để sơ duyệt;
- Bản thảo được chấp nhận: Phiên bản được tác giả chỉnh sửa theo nhận xét của phản biện và được biên tập viên chấp nhận;
- Bản PDF cuối cùng đã xuất bản: Phiên bản đã đã được biên tập, hiệu chỉnh và xuất bản.
b) Hệ thống lưu trữ quốc tế:
DOI (Digital Object Identifier): Tất cả các bài báo được xuất bản của Tạp chí đều được được gán một DOI, đường dẫn địa chỉ của bài báo tới thư mục được quản lý tập trung và tồn tại vĩnh viễn, giúp xác định và nhận dạng chính xác bài báo đó. DOI đảm bảo tính nhất quán và truy cập vào tài liệu trong thời gian dài, ngay cả khi địa chỉ web hoặc vị trí lưu trữ của Tạp chí thay đổi. Tạp chí sử dụng DOI để liên kết và truy xuất bài báo, cung cấp cho người đọc một cách dễ dàng để tìm kiếm, trích dẫn và truy cập vào tài liệu.
Truy cập tự do
1. Với định hướng hoạt động và phát triển theo hướng hội nhập và tham gia kết nối với hệ thống dữ liệu quốc gia và quốc tế, Tạp chí xác định tất cả các bài báo khoa học, các nghiên cứu được xuất bản chính là nguồn tài nguyên giáo dục mở (OER). Tạp chí cho phép độc giả truy cập tự do tất cả các ấn bản phẩm ngay sau khi xuất bản.
2. Các Tác giả và độc giả có thể tìm kiếm, xem, và tải toàn văn tất cả các bài viết bản điện tử được xuất bản trên Tạp chí mà không cần trả bất kỳ chi phí nào; đồng thời được phép sao chép, phân phối, trưng bày, và trình diễn tác phẩm và tạo ra các tác phẩm phái sinh dựa trên tác phẩm gốc với mục đích hợp pháp và phi thương mại khác kèm theo các trích dẫn nguồn đầy đủ.
3. Tạp chí cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho tính mở, minh bạch và khả năng tái tạo của nghiên cứu. Tạp chí hỗ trợ và khuyến khích dữ liệu nghiên cứu được chia sẻ để độc giả có thể khám phá cũng như trích dẫn và dữ liệu nghiên cứu được công nhận là một sản phẩm trí tuệ có giá trị.
Thảo luận sau xuất bản
Tạp chí áp dụng chính sách truy cập mở cho tất cả các đối tượng nhằm mở rộng cơ hội nghiên cứu khoa học đạt chất lượng và tăng cường trao đổi kiến thức trong lĩnh vực Kĩ thuật - Công nghệ, Khoa học Sức khỏe, Khoa học Xã hội - Nhân văn và Kinh tế - Quản trị.
Tạp chí khuyến khích độc giả là các nhà nghiên cứu tranh luận đối với các bài báo sau khi xuất bản bằng cách gửi các nhận xét, bình luận cho Tạp chí.
Bản quyền
1. Bản quyền bài báo đăng trên tạp chí (cả ấn phẩm trực tuyến và in ấn trên giấy) thuộc về tác giả bài báo và Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.
2. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp về bản quyền, Tạp chí sẽ chủ trì tham mưu tới các cấp có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp theo pháp luật hiện hành.